SITEMAP | Trang nhà | ENGLISH | 繁體中文
Trang nhà / Giáo Pháp / Kinh Sách / Quán Âm Sám

Quán Âm Sám 觀音懺

Tiếp theo, chúng con cúi đầu lễ lạy, xin học hạnh Phản Văn của đấng đại từ đại bi Quán Thế Âm bồ tát. Chư Phật dạy rằng cuộc sống hướng ngoại là cuộc sống trôi lăn, là cuộc sống của dòng sinh tử. Cuộc sống hướng nội là cuộc sống tâm linh, cuộc sống vượt thoát trần tục. Sự hài hòa giữa hai cuộc sống hướng nội và hướng ngoại là cuộc sống toàn diện mà chư bồ tát phát triển. Do vậy, hướng nội để tâm linh thăng hoa, hướng ngoại để độ giúp đời cứu người, là nội dung tu hành chính yếu của đạo bồ tát. Để tâm linh thăng hoa, đức Quán Thế Âm dạy chúng con pháp tu phản văn. Phản là xoay ngược lại; văn là lắng nghe, là lắng nhìn, là chú ý. Phản văn là xoay ngược khả năng nghe nhìn bên ngoài, để lắng nghe, lắng nhìn tự tâm, chân tâm bên trong. Ngài dạy rằng, trước hết, chúng con cần lắng nghe những lời phê bình chỉ trích của người ngoài, để nhận thấy tâm thái sợ hãi và giận dữ của chính mình. Lắng nghe lời thô ác, lời khiêu khích, để nhận thấy tâm không biết tha thứ, không biết hài hòa của chính mình. Lắng nghe lời ruồng rẫy, phủ nhận, hủy nhục, để nhận thấy tâm chấp trước vào danh, chấp trước vào lời khen. Lắng nghe lời ngon ngọt, lời tán dương, lời tâng bốc, để nhận thấy tâm không an toàn, luôn ràng buộc, luôn sợ hãi. Kế đó, đức bồ tát  dạy chúng con phải lắng nghe vào tiếng nói nhỏ nhiệm, vi tế của lương tâm, tiếng nói của lòng chân thật, tiếng nói của lòng tốt, mà thường bị chôn vùi bởi thành kiến và thói quen xấu. Lắng nhìn những chỗ đen tối của cõi lòng, nhìn những điểm sai lầm của tư tưởng, để chấp nhận rằng bóng tối và điểm mù của mình vẫn còn đó. Khi thất ý, không vừa lòng, khi bị ruồng rẫy, bỏ rơi, nhục mạ, con hãy lắng nhìn những chỗ đau nhói của thâm tâm, để thấy xuyên thủng màn lưới chấp trước kiên cố của cái tôi; và hãy truyền đạt sự thức tỉnh này tới mọi người quanh con. Khi tâm trỗi dậy nỗi buồn vô hạn, con hãy lắng nghe sự im lặng sâu thẳm mà mọi tâm thái đều tịch lặng, để nhìn xuyên qua tánh tương đối của buồn và vui; và hãy đem niềm vui nội tại tới cho mọi người quanh con. Khi đối diện với hỗn loạn, rắc rối, con hãy lắng nghe chân lý nhân quả, lắng nhìn lý chiêu cảm đang vận hành bên trong vạn sự, để nhìn xuyên mọi rối ren; và hãy chia sẻ sự sáng suốt này với mọi người quanh con. Con hãy tập thả lỏng mọi ràng buộc, thư giãn mọi nỗ lực của cái tôi, hãy để tâm tư trầm lắng, để mọi truy đuổi dừng bặt, khi đó con hãy lắng nghe sự im lặng thẳm sâu của tự tánh Bất Nhị mà không âm thanh nào có thể biểu đạt, không hình ảnh nào có thể hình dung, không ngôn từ nào có thể diễn tả. Ngày nay chúng con trong đạo tràng này, được sự may mắn thấm ướt nước pháp của đức bồ tát, chúng con vô cùng hổ thẹn xin thành khẩn sám hối hết thảy những tội, những lỗi, những sơ sót, những ác nghiệp từ vô thủy đến nay, đã chận ngăn sự khai mở của chân tâm Bất Nhị, xin từ đây mở khai con đường trở về, con đường bồ tát, con đường thẳng tới chân tâm Bất Nhị. Xin Quán Âm bồ tát rủ lòng từ bi, gia trì nhiếp thọ, khiến chúng con được thuận duyên dễ dàng tiến đạo, dễ dàng trực nhận được chân tâm Bất Nhị, dễ dàng chia sẻ sự thức tỉnh này với tất cả những chúng sinh có duyên với chúng con. Chúng con xin cung kính, chân thành đảnh lễ.

Nam mô bồ tát Quán Thế Âm 南無觀世音菩薩

Nam Mô Đại Từ Đại Bi, Cứu Khổ Cứu Nạn, Quảng Đại Linh Cảm, Quán Thế Âm Bồ Tát.

Tiếp theo, chúng con cúi đầu lễ lạy, xin học hạnh Thí Vô Úy của đấng đại từ đại bi Quán Thế Âm bồ tát. Kinh có dạy rằng chúng sinh trong đời này ít nhiều gặp phải mười tám loại sợ hãi: sợ đi vào đường hiểm nguy, khó khăn; sợ do tâm lý nóng bức; sợ do quên lối, lạc lõng, mê mờ; sợ vì bị ràng buộc; sợ bị giết hại; sợ nghèo cùng khổ sở; sợ không thể sống, không thể sinh tồn; sợ bị tiếng tăm xấu xa hoen ố; sợ chết; sợ oai của tập thể; sợ thú dữ; sợ bóng đen; sợ bị di chuyển, đổi dời; sợ xa rời người mình thương yêu; sợ gặp mặt người mình thù, mình oán ghét; sợ bị ức hiếp bức bách thân xác; sợ bị căng thẳng, chèn ép tâm lý; sợ gặp chuyện buồn rầu, tang thương. Ngoài mười tám thứ sợ hãi mà kinh nói trên, có người sợ vì lối sống sinh tồn, sợ cô quạnh, không ai săn sóc lúc tuổi già; sợ bị ruồng rẫy; sợ bị cho ra rìa; sợ mất, như mất đồ đạc, nhà cửa, địa vị, danh tiếng, con cái, người thân, bạn bè; sợ không đúng với khuôn phép; sợ làm sai; sợ pháp luật trừng trị; sợ bị người nạt nộ, hiếp đáp; sợ không được chấp nhận; sợ thi cử không đậu; sợ thiếu thốn; sợ không thành đạt; sợ bị trả thù; sợ bị đòi nợ; sợ bị cướp đánh; sợ đủ thứ, vì tâm thần bất an; sợ không có lý do. Những thứ sợ hãi thật nhiều không xiết, chỉ khi giác ngộ hoàn toàn, thì mới tiêu tan. Kinh Hoa Nghiêm có dạy sáu cách suy tư để ta giúp tha nhân khôi phục cảm giác an toàn, mất hết sợ hãi. Sáu cách là gì? Một, nên suy nghĩ rằng mình như căn nhà, giúp tha nhân được sự che chở, ấm cúng, và an toàn. Hai, nên nghĩ rằng mình như kẻ bảo vệ, chận đứng không để phiền não bức bách, nhiễu loạn lòng người. Ba, nên nghĩ mình như ngọn đuốc, thắp sáng lối đi, phá tan bóng tối sợ hãi, hắc ám trong tâm người. Bốn, nên nghĩ mình như ngọn đèn, giúp người thấy chỗ cứu cánh thanh tịnh, không ô nhiễm, không khổ đau. Năm, nên nghĩ mình như chỗ trở về, khiến tha nhân có chỗ nương tựa, có chỗ để tin tưởng, nên hết lo, hết sợ. Sáu, nên nghĩ mình như người dẫn đường, dẫn kẻ lầm đường trở vào đường tốt, theo lý Phật dạy. Tất cả bồ tát thánh hiền đều dùng nhiều thứ phương tiện giúp người đạt đến an lạc, hết sạch sợ hãi lo âu. Chúng con xin ngừng những thái độ dọa nạt, ức hiếp, làm người sợ, làm mất niềm tin, làm mất hy vọng, làm khổ tâm, làm rối ren nhân quả, làm đau buồn khổ sở. Chúng con xin học tinh thần lạc quan, làm người tăng niềm tin, thêm hy vọng, được cảm giác an toàn, an ủi. Chỉ khi tâm chúng con hết sợ thì chúng con mới dễ dàng làm người khác hết sợ. Kinh Hoa Nghiêm dạy rằng, muốn hết sợ, vô úy, bất động, thì mình cần phải làm những việc như sau: nên tập bố thí, cho ra, cúng dường, tất cả những thứ mình không thể buông xả được; nên tư duy quan sát sâu sắc đạo lý mà Phật nói; nên thường nhớ nghĩ tới việc cúng dường chư Phật, chư thánh hiền; chớ bao giờ dọa nạt, làm chúng sinh phiền não buồn rầu; đối xử thân thương nhẹ nhàng với cả người thân và người oán ghét mình; tu học tất cả pháp môn mà không hề nhàm chán; phát nguyện độ thoát tất cả chúng sinh trong vô lượng kiếp số để họ có thể theo học đạo bồ tát, mà lòng không mỏi mệt, cũng không thối lui; tự mình khởi lòng tin tưởng và làm tha nhân tin tưởng vào sự thanh tịnh, vào con đường vị tha, vào sức mạnh của tánh tình hài hòa, vào ích lợi của công hạnh xả thân;  nên lắng nghe chân lý với lòng cởi mở, không hủy báng, tìm lỗi để chê bai phê bình. Đó là những việc làm khiến tự mình sinh lòng vô uý, bất động trước thử thách; chúng con xin tùy sức tu học. Chúng con vô cùng hổ thẹn xin thành tâm sám hối những tội, những lỗi, những sơ sót, những ác nghiệp từ vô thủy tới đời nay; do vì chúng con không biết ban bố niềm vui, niềm an ổn, hy vọng, mà ngược lại chỉ tạo thêm phiền não, sợ hãi, khổ sở cho chúng sinh. Xin Quán Âm bồ tát rủ lòng từ bi, gia trì nhiếp thọ, khiến chúng con thuận duyên, dễ dàng sửa đổi tâm tánh, giúp đỡ mọi người hết sợ hết lo, an lạc tự tại. Chúng con xin thành tâm đảnh lễ.

Nam mô bồ tát Quán Thế Âm 南無觀世音菩薩

Nam Mô Đại Từ Đại Bi, Cứu Khổ Cứu Nạn, Quảng Đại Linh Cảm, Quán Thế Âm Bồ Tát.

Tiếp theo, chúng con cúi đầu lễ lạy, xin học hạnh Ứng Duyên của đấng đại từ đại bi Quán Thế Âm bồ tát. Khi có ai xin hỏi thì bồ tát liền trả lời, đó gọi là ứng đáp. Khi có ai cần tới ở bên cạnh,  bồ tát liền hiện thân tới đó, đó gọi là ứng hiện. Khi có ai cần bồ tát giúp, bồ tát liền tới giúp ngay, đó gọi là ứng duyên. Ứng duyên thì bao gồm hai hạnh hiện thân và hiến thân, đồng thời cũng vận dụng hạnh chân thật và thí vô úy. Sở dĩ bồ tát ứng duyên là để ban an lạc và để thành tựu chúng sinh. Làm sao bồ tát ứng thân để thành tựu chúng sinh? Ngài bố thí, cho ra, để thành tựu tha nhân; ngài cống hiến thân xác và sức lực của mình để thành tựu tha nhân; ngài nói lời chân lý để thành tựu tha nhân; ngài cùng làm việc sát cánh bên tha nhân để thành tựu họ; ngài dùng sự thanh tịnh, không nhiễm ô, không chấp trước để thành tựu tha nhân; ngài chỉ dạy đạo bồ tát để thành tựu tha nhân; ngài dùng sự thị hiện mãnh liệt để thành tựu tha nhân; ngài dùng oai đức của chân lý Phật dạy để thành tựu tha nhân; ngài dùng đủ thứ thần thông biến hóa để thành tự tha nhân; ngài dùng đủ thứ phương tiện thiện xảo vi tế để thành tựu tha nhân. Khi ứng duyên, ngài sẵn sàng dấn mình vào chỗ nhơ bẩn, chỗ bất tịnh, chỗ nguy hiểm, chỗ không ai muốn vào, chỗ ai cũng đầy thành kiến chê bai, chỗ của địa ngục, chỗ của quỷ đói, chỗ của súc sinh, chỗ của tù đày, chỗ của đọa lạc, chỗ của bóng tối, chỗ do ác nghiệp tạo ra, chỗ đau khổ triền miên. Ở những chỗ ấy, ngài chuyển hóa chúng sinh. Nơi chỗ nhơ bẩn, ngài biến nó thành nơi sạch sẽ trang nghiêm, để chúng sinh khởi tâm trong sạch, hướng thiện. Nơi chỗ bất tịnh, ngài biến chúng thành tịnh độ, để chúng sinh khởi tâm thanh tịnh, muốn tu. Nơi chỗ nguy hiểm, ngài đem tới an ổn, khiến chúng sinh được đắc an lạc. Nơi chỗ không ai muốn vào, ngài biến nó thành nơi đẹp đẽ, quang minh, khiến chúng sinh khởi lòng bình đẳng,  muốn vào trú ngụ. Nơi chỗ ai cũng đầy thành kiến chê bai, ngài biến nó thành nơi thánh thiện, khiến chúng sinh thay đổi giá trị quan và cách suy nghĩ. Nơi chốn địa ngục, ngài biến nó thành hoa sen tươi mát, khiến chúng sinh ở đó tri nhận nhân quả, tri nhận tội phước, sinh khởi lòng tin, mở lòng, mở trí, rồi lập tức ra khỏi khổ đau đày đọa, lập tức giải thoát. Nơi chốn quỷ đói, ngài biến nó thành chỗ no ấm, khiến quỷ đói sinh lòng rộng rãi, bớt ghen, bớt ghét, để lập tức thoát khỏi kiếp quỷ. Nơi chốn súc sinh, ngài biến nó thành chỗ trí huệ, khiến súc sinh có thể cảm thông, có thể hiểu được nghiệp duyên nhân quả, rồi từ đó thoát thân cầm thú, đầu thai sinh thiên, vãng sinh cõi Phật. Nơi chỗ của tù đày, ngài phá tan gông cùm, xiềng xích, khiến chúng sinh ở đó thấy được nhân quả của hành động và có cơ hội tạo dựng cuộc đời mới. Nơi chỗ của bóng tối, ngài biến nó thành chốn quang minh sáng suốt, khiến chúng sinh tri nhận bóng tối của tự tâm, bóng tối của hành động dấu diếm, bóng tối của cõi lòng ích kỷ, rồi thức tỉnh cơn mộng mị giữa đêm dài ngu tối, giải thoát tự tại. Nơi chỗ do ác nghiệp tạo ra, ngài đem tới thiện nghiệp, làm chúng sinh phát khởi tâm bồ đề, sinh lòng vị tha, sinh lòng hướng thiện. Nơi chỗ đau khổ triền miên, ngài biến nó thành nơi an ổn, khiến chúng sinh khôi phục nụ cười trên môi, tin tưởng hy vọng, lạc quan nhìn đời, thay đổi cuộc sống, lành trị mọi bịnh, mở tâm vui sống. Ngài làm tất cả mọi việc trên vì ngài muốn làm ‘người bạn không cần thỉnh mời’ của chúng sinh. Ngày nay chúng con tùy theo sức mình, cũng xin noi theo gương ngài, làm người bạn tốt, không cần thỉnh mời, tự động phát tâm đi giúp đi cứu chúng sinh. Chúng con nguyện xin bằng đủ mọi cách sẽ hết lòng hy sinh thân mạng nhỏ bé này cho việc đem tới an lạc cho mọi người. Xin nguyện từng giây từng phút của cuộc sống, là từng giây từng phút của sự hiến dâng. Từng hơi thở là từng sức lực đem ra bố thí. Chúng con vô cùng hổ thẹn xin sám hối những tội, những lỗi, những sơ sót, những ác nghiệp do thiếu lòng hy sinh, thiếu can đảm ứng duyên giúp người, mà con đã tạo ra từ kiếp vô thủy cho tới đời nay. Xin Quán Âm bồ tát rủ lòng thương gia trì nhiếp thọ, khiến chúng con thuận duyên, dễ dàng tu tâm sửa tánh, thực tập hạnh ứng duyên, dấn thân đi giúp người, hy sinh vô vụ lợi, để đem an lạc và giải thoát tới tất cả. Chúng con xin cung kính thành tâm đảnh lễ.

Nam mô bồ tát Quán Thế Âm 南無觀世音菩薩

Nam Mô Đại Từ Đại Bi, Cứu Khổ Cứu Nạn, Quảng Đại Linh Cảm, Quán Thế Âm Bồ Tát.

 

                       Trang  1   2   3  4   5